Khu Biệt Điện Trần Lệ Xuân

Ngày nay, đông đảo du khách trong và ngoài nước khi đến tham quan, du lịch thành phố hoa Đà Lạt ở độ cao gần 2.000 mét (có đỉnh Liang Biang cao 2.167 mét) đều thích thú đến thăm cụm nhà vườn được gọi là Khu biệt điện Trần Lệ Xuân ở số 2 đường Yết Kiêu thuộc phường 5, không xa với sân bay và thác nước Cam Ly. Khu này có diện tích hơn 13.000 m2 đất nằm trên đồi cao hơn cả các Dinh Bảo Đại tọa lạc trên các ngọn đồi rộng thoáng.
1/- Từ Khu Biện Điện Trần Lệ Xuân :
Trước giải phóng 4/1975, dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, khi nói đến khu Biệt điện Trần Lệ Xuân là nói đến vẻ đẹp xa hoa, lộng lẫy cùng danh tiếng và quyền uy của chủ nhân. Khu Biệt điện này nổi tiếng đến độ sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm (tháng 11/1963), đông đảo du khách đổ xô về đây để xem. Khu Biệt điện là một quần thể các hạng mục với những tên gọi rất hoa mỹ, thể hiện sự cầu kỳ mang phong cách quý tộc của chủ nhân. Đó là : Biệt thự Hồng Ngọc (Trần Lệ Xuân xây dành cho cha là ông Trần Văn Chương, lúc đó là Đại sứ VNCH tại Mỹ) , Biệt thự Bạch Ngọc có hồ nước ngoài trời (nơi giải trí của gia đình Trần Lệ Xuân), Biệt thự Lam Ngọc (nơi nghỉ cuối tuần của gia đình Trần Lệ Xuân và các tướng tá VNCH thời đó) và Vườn hoa Nhật Bản (được các nhà thiết kế người Nhật xây dựng theo phong cách Nhật Bản). Trong vườn hoa Nhật Bản có một hồ nước đặc biệt, khi bơm nước đấy sẽ hiện rõ hình bản đồ Việt Nam. Ngoài ra, còn có hai khu nhà dành cho đơn vị bảo vệ, phục dịch.
Về khu Biệt điện lộng lẫy này, hồi ký “Việt Nam nhân chứng” của Trần Văn Đôn viết :”Họ (ông bà Nhu) có xây một khu nhà ở trên Đà Lạt, gồm ba ngôi nhà có hồ tắm, sân đánh tennis. Xây mãi không xong vì bà Nhu đổi ý kiến hoài nên đến ngày đảo chính 1/11/1963 vẫn chưa hoàn thành”. Còn theo Đỗ Mậu một tướng của ngụy quyền Sài Gòn thì viết trong hồi ký như sau :”Tướng Đôn quên kể cái vườn hoa rộng lớn có thể được gọi là bát ngát trong sân trước, quên cả rừng thông trên ngọn đồi của lâu đài được sắp đặt và vun xới công phu, quên cả cái hồ sen hình địa đồ Việt Nam mà bà Nhu đã mời kỹ sư Nhật Bản đến Việt Nam hai lần để thiết kế và xây cất cái hồ đặc biệt đó.”
Trần Lệ Xuân sinh năm 1924, là con gái của luật sự Trần Văn Chương. Năm 1943, lúc 19 tuổi, Trần Lệ Xuân mới đậu xong bằng Tú tài Pháp, dự định thi xong Tú tài II thì xin vào học ngành luật để nối nghiệp cha nhưng không thành vì gia đình đã nhận gả bà cho Ngô Đình Nhu, hơn bà đến 14 tuổi (và là bạn của cha khi còn học ở Pháp). Trần Lệ Xuân lập ra tổ chức Thanh nữ cộng hòa, rồi Phụ nữ bán quân sự, Phong trào liên đới phụ nữ… và làm chủ tịch hoặc thủ lĩnh các tồ chức này(Sách “Mộc bản triều Nguyễn, Trung tâm lưu trữ quốc gia IV”, Đà Lạt năm 2007, trang 9).
Có thể nói, những năm từ 1954 đến năm 1960 là thời kỳ cực thịnh của gia đình họ Ngô tại miền Nam. Song sự cực thịnh đó chỉ ẩn chứa những mầm móng sự sụp đổ từ bên trong mà nguyên nhân một phần do vợ chồng Nhu gây ra. Điều đó càng trở nên tồi tệ hơn kể từ năm 1960 cho tới ngày chế độ Diệm sụp đổ (1/11/1963) và Lệ Xuân đã trở thành cái đích để mọi người trút vào đó sự căm ghét, oán trách.
Năm 1954, sau khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ làm chấn động địa cầu và phải rút quân tập trung về miền Nam từ vĩ tuyến 17 theo hiệp định Genève để chờ hai năm sau cùng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc với tư cách người chiến thắng tổ chức tổng tuyền cử thống nhất đất nước. Nhưng dưới sức ép của Mỹ, Pháp buộc phải thay chính phủ Bảo Đại bằng chính phủ Ngô Đình Diệm. Ngày 23/10/1955, Ngô Đình Diệm tổ chức cái gọi là trưng cầu dân ý để truất phế Bảo Đại. Do đó, tháng 10/1955 Diệm tự phong là Quốc trưởng đồng thời là Thủ tướng chính phủ lấy danh hiệu là Tổng thống, thiết lập ra chế độ Việt Nam Cộng hòa cho tới ngày bị lật đổ (11/1963).
Bên cạnh Ngô Đình Diệm có em là Ngô Đình Nhu, sinh ngày 07/10/1910 tại xã Phước Quả tổng Cự Chánh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, trong một gia đình quan lại theo đạo Thiên chúa, là con trai của Ngô Đình Khả, Thượng thư Bộ Lại dưới triều vua Thành Thái. Không giống cha và hai anh của mình là Khôi và Diệm, Ngô Đình Nhu theo Tây học và du học ở Pháp, học ở các trường Đại học Văn khoa và trường Ngôn ngữ Phương Đông và là người Việt Nam đầu tiên thi đỗ vào trường Cổ tự Quốc gia của Pháp năm 1935. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1938 và trở về Việt Nam với hai bằng Lưu trữ Cổ tự học và Cử nhân Khoa học, Ngô Đình Nuu được tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch Lưu trữ viên Cổ tự tại Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương ở Hà Nội. Năm 1943, Ngô Đình Nhu lấy Trần Lệ Xuân, con gái của luật sư Trần Văn Chương như nói ở trên. Hai người lấy nhau vài năm sau thì nổ ra cuộc Cách mạng tháng Tám.
Sau Quốc khánh 2/9/1945, tướng Võ Nguyên Giáp lúc đó là Bộ trưởng Bộ Nội Vụ thay mặt Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra sắc lệnh cử Ngô Đình Nhu làm Giám đốc Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc nhưng sau đó Ngô Đình Nhu bỏ trốn đến Phát Diệm (Ninh Bình) và Thanh Hóa lập Liên đoàn kháng chiến Cần lao Việt Nam và phát động phong trào chống Việt Minh. Liên đoàn này sau ngày di cư trở thành đảng Cần Lao để làm hậu thuẫn cho chế độ Diệm tại miền Nam từ năm 1954-1963 và Nhu trở thành Cố vấn chính trị của Tổng thống và Tổng bí thư đảng Cần lao nhân vị.
2/- Đến Sự Ra Đời của Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia IV :
Sau cuộc đảo chính 01/11/1963, chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Diệm Nhu bị giết chết thê thảm trong chiếc xe bọc thép. Tài sản gia đình họ Ngô bị tịch thu, khu Biệt điện Trần Lệ Xuân được chế độ ngụy quyền miền Nam dùng làm khu bảo tàng Sắc tộc Tây Nguyên nhưng không được phát triển.
Ngày 30/4/1975, miền Nam hòan toàn giải phóng, sau đó khu Biệt điện này được giao cho Sở Du lịch tỉnh Lâm Đồng quản lý. Năm 1984, khu Biệt điện được UBND tỉnh Lâm Đồng giao cho Cục Lưu trữ Nhà nước (nay là Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước) quản lý để làm nơi bảo quản khối tài liệu “Mộc bản triều Nguyễn”. Cục này phải tốn nhiều kinh phí và công sức để tu sửa, bảo tồn bảo tàng khu Biệt điện từ năm 1988 đến năm 2000. Để bảo quản khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn, năm 2002 Nhà nước đầu tư xây mới Kho chuyên dùng để bảo quản khối tài liệu quý hiếm này. Tháng 8/2006, Bộ Nội vụ ra quyết định thành lập “Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV” với chức năng thu thập, bổ sung, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ của các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn miền Trung và Tây nguyên để bảo hiểm tài liệu lưu trữ quốc gia từ Quảng Trị trở vào.
Kể từ tháng 8/2006, khu biệt điện Trần Lệ Xuân trở thành trụ sở chính của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV. Năm 2007, Trung tâm này đã hoàn tất việc trùng tu, nâng cấp Khu biệt điện xa hoa, lộng lẫy này và tổ chức Khu trưng bày tài liệu lưu trữ tại đây.
Từ ngày 15/12/2007, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Khu Biệt điện Trần Lệ Xuân trước đây) trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà nghiên cứu, các du khách trong nước và nước ngoài quan tâm đến lịch sử và văn hóa Việt Nam.
3/- Vài Nét Về Tài Liệu Mộc Bản Triều Nguyễn :
Tài liệu Mộc bản là bản gỗ khắc chữ Hán hoặc chữ Nôm ngược để in ra các sách. Dưới triều nhà Nguyễn, kể từ Gia Long lên ngôi năm 1802 cho tới năm Bảo Đại thoái vị tháng 8/1945, do nhu cầu phổ biến rộng rãi các chuẩn mực của xã hội, các điều luật bắt buộc người dân phải tuân theo, để lưu truyền công danh sự nghiệp của các vua chúa, các sự kiện lịch sử đã và đang diễn ra trên đất nước… triều đình đã cho khắc in nhiều bộ sách sử và các tác phẩm văn chương để ban cấp cho các nơi hoặc lưu hành trong dân gian. Trong quá trình hoạt động đó đã hình thành một loại tài liệu đặc biệt được gọi là “Mộc bản”. Hầu hết những tài liệu đó gọi là “Mộc bản triều Nguyễn”, kể luôn cả số sách vở cổ được đưa từ Thăng Long – Hà Nội vào sau ngày nhà Nguyễn lên thay nhà Lê và Hậu Lê về kinh đô Huế, được quy tập bảo quản tại kho chuyên dụng ở số 2 Yết Kiêu thành phố Đà Lạt ngay trongkhu Biêt điện Trần Lệ Xuân đã nói ở trên do Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV quản lý.
Dưới triều Nguyễn, sách quốc sử, thực lục của các triều vua và các sách chuyên khảo về giáo dục, địa chí, văn học… được biên soạn ở Quốc Sử quán. Cơ quan này được thành lập năm Minh mạng thứ I (1820). Cơ sở được dựng ở phường Phú Văn trong kinh thành Huế, gồm Nhà Chính để làm việc và hai dãy Nhà Phụ hai bên để nhân viên tu thư trong quán cư trú. Năm Tự Đức thứ II (1849) dựng thêm Tàng bản đường ở phía sau Sử quán để chứa Mộc bản. Quốc Sử quán có nhiệm vụ biên soạn quốc sử, thực lục các triều vua và những sách chuyên khảo về giáo dục, địa chí, văn học v.v…Quốc Sử quán làm việc trên các sách cổ và những tài liệu được hình thành trong quá trình hoạt động của nhà vua và các bộ, nha, trấn, thành v.v…Đó là những chiếu, dụ, chỉ của Hoàng đế đã được đưa ra thi hành, còn các phiến, tấu, sớ, sách của các cơ quan thuộc các bộ ở triều đình và địa phương đã được Vua phê duyệt và hầu bửu (bản chính của các văn bản này gọi là Châu bản).
Theo lệ định, các Châu bản được giao xuống Nội các để sao chép những lời Ngự phê vào hai phó bản. Khi sao chép và hầu bửu xong, Nội các gởi một phó bản cho Quốc sử quán để làm căn cứ biên soạn và trước thuật các sách. Sách Minh Mạng chính yếu có ghi :”Năm Minh Mạng thứ 18 vâng chỉ :…đem các bản châu phê, cũng như các bản ghi trong lúc khởi, cư, động, tác, chia loại, vựng đính thành bộ sách nhan đề Minh Mạng chính yếu toàn thư thư”. (Mộc bản triều Nguyễn - Cục văn lưu trữ nhà nước, 2007, trang 2).
Năm Thiệu Trị thứ 6, Châu bản được chuyển về Quốc sử quán để Nội các biên soạn Hội điển. Cũng cần nói thêm, Châu bản là bản chính duy nhất. Vì vậy, khi đưa ra sử dụng được trông coi rất kỹ. Hết giờ làm việc, mỗi đêm đếu có một nhóm nhân viên ở lại coi giữ. Các sách biên soạn xong, bản thảo được giao xuống cho thợ chuyên môn khắc in, khắc lên những tấm bản gỗ để in ra các sách. Do đó, Quốc sử quán có hai loại tài liệu : Châu bản và Mộc bản. (Châu bản là văn bản gốc, còn Mộc bản là những bản gỗ khắc chữ ngược để in ra sách hay văn bản rời – thứ bản). Gỗ dùng làm ván khắc chữ, sách Đại Nam nhất thống chí có ghi :” Gỗ cây nha đồng tục danh là Sống mật có sớ gỗ trắng, sáng ngời như ngà voi…” (Sđd trang 2).
Mộc bản sau khi in xong được đưa vào bảo quản ở Tàng bản đường. Có thể nói đây là kho lưu trữ Mộc bản chính của triều đình. Trong hơn 100 năm tồn tại, Quốc sử quán đã biên soạn nhiều bộ sử có giá trị như Đại Nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám Cương mục, Đại Nam nhất thống chí v.v…Đồng thời trong quá trình hoạt động đó, Quốc sử quán đã sản sinh ra một khối lượng lớn tài liệu Mộc bản, chủ yếu là ván khắc in những tác phẩm chính văn, chính sử đều là sách công của vương triều Nguyễn. 
Năm Gia Long thứ 3(1804), triều đình đã thành lập một trường quốc gia để dạy dỗ các con cháu trong tôn thất và các thượng quan cùng các sinh viên ưu tú trong nước. Năm Minh Mạng thứ 2(1921), vua đặt tên trường này là Quốc tử giám (một loại hình cơ sở giáo dục cao cấp của các triều đình thời Lý, Trần, Lê tọa lạc qua nhiều thế hệ ở kinh thành Thăng Long).Trường được xây dựng ở phía Tây Kinh thành Huế, gồm có Di luân thường và các dãy Nhà giám. Ngoài chức năng đào tạo, Quốc tử giám còn tiếp nhận bảo quản, tu bổ các ván in sách đã được thu chuyển từ Bắc thành (Thăng Long) về.
Minh Mạng thứ 8, có Chỉ :”Sai quan Bắc thành kiểm sát các ván in nguyên trữ ở Văn Miếu (Hà Nội) về các sách Ngũ Kinh, Tứ Thư Đại Toàn, Vũ Kinh Trực Giải cùng Tiền Hậu Chính sử và Tứ Trường Văn thể về Kinh (Huế) để ở Quốc Tử giám.” Ngay năm sau, Mộc bản các sách “Tiền Hậu Chính sử” và “Tứ Trường Văn thể” đã được cho in thành sách để ban cấp cho các đường quan và sinh viên trong trường. Việc thu thập Mộc bản ở Bắc thành đưa về Kinh còn được thực hiện tiếp trong những năm sau đó. Vua Thiệu trị, người kế vị Minh Mạng, ngay đầu năm sau khi đăng quang đã ban sắc :”Quốc Tử giám (Hà Nội) trước có chứa bản in về sách Tứ Thư Ngũ Kinh, Đại Học diễn nghĩa, Đại Việt Sử Ký, Thi Vận tập yếu. Vậy, liệu cho bắt thuyền binh đi vận tải các bản ấy về Quốc Tử giám (Huế) mà chứa ở đấy”.
4/- Quá Trình Hình Thành và Bảo Quản Mộc Bản :
Mộc bản được đưa về bảo quản ở Nhà Giám, do nhân viên Quốc Tử giám coi giữ và thường xuyên kiểm tra, xem xét, đồng thời cho sinh viên học ở quán xét xem những sách công cũ, những chữ in có chữ nào mất nét, sai lầm, cần phải khắc lại, thì lấy của công ra viết lại giao cho Viên Đốc công Vũ khố, đốc sức cho thợ khắc lại bản in. Qua đó, cho thấy việc lưu trữ Mộc bản của Quốc Tử giám được thực hiện khá chu đáo, từ khâu thu thập, lưu trữ đến bảo quản, tu bổ (đôi khi phục chế bằng cách khắc lại các bản bị hư hỏng) và in ấn để phục vụ nhu cầu giảng dạy và học tập của nhà trường và xã hội.
Năm 1933, Quốc Tử giám (Huế) bị bãi bỏ, nhà trường được dùng làm trụ sở thư viện đầu tiên của Nam triều. Sau đó, cơ sở này được tiến hành sửa chữa, nâng cấp với quy mô lớn, biến nơi đây thành một Tổng Thư viện Trung ương. Năm 1937, công việc hoàn thành, thư viện được đặt tên Thư viện Bảo Đại, tập trung tất cả những sách vở, những tài liệu của các khố văn thư lớn nhỏ, từng được thiết lập tại Huế, kể cả kho sách và tài liệu của Nội các. Về sau, thư viện này một lần nữa được đổi tên là Viện Văn hóa Trung phần.
Năm 1960, toàn bộ văn khố Hoàng triều gồm Châu bản, Mộc bản, Địa bộ và sách Ngự lãm được chuyển từ Huế về Đà Lạt, tập trung chung ở Khu Biệt điện Trần Lệ Xuân cho tới khi được Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV tổ chức bảo quản lại và khai thác, sử dụng như ngày nay. Trước đó, Chính phủ giao cho Cục Lưu trữ Nhà nước (nay là Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước) đã triển khai thực hiện chương trình “Cấp cứu tài liệu Châu bản và Mộc bản”. Nhờ đó mà hơn 3.000 tấm Mộc bản, phần lớn được khắc hai mặt trước đây, đã được in ra giấy dó. Sau khi phân loại sắp xếp, có 152 đầu sách, tập trung chủ yếu và ba nhóm chính sau đây :
- Các chính sử triều Nguyễn gồm : các sách Khâm định, Thực lục, Chính yếu.
- Các tác phẩm văn chương chính thống của triều đình gồm : các tác phẩm Ngự chế, Thánh chế thi, Thánh chế văn của các hoàng đế triều Nguyễn .
- Các sách kinh điển của nhà Nho dùng để dạy và học chữ, như : Tứ thư ngũ kinh, Bội văn vận phủ, Tòng chính di quy, Giáo nữ di quy…

Rõ ràng đây là một kho tư liệu quý, cung cấp cho giới nghiên cứu nguồn tài liệu đáng tin cậy và phong phú khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận đại. Được sự quan tâm của Chính phủ và Bộ Nội vụ, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, ngày nay toàn bộ khối tài liệu Mộc bản quý giá nói trên được đưa vào bảo quản trong kho lưu trữ chuyên dụng, được trang bị thiết bị bảo quản hiện đại của công nghệ thông tin nên đã làm tăng tuổi thọ của tài liệu đến muôn đời sau.
5/- Đôi Lời Kết Luận:
Tóm lại, Mộc bản là một loại hình tài liệu lưu trữ đặc biệt đối với Việt Nam và hiếm có trên thế giới. Mộc bản kết hợp với phông tài liệu lưu trữ thời Nguyễn như Châu bản, Sổ bộ, sách Ngự lãm… chúng ta sẽ có một nguồn sử liệu khá đầy đủ, phong phú, đa dạng và bổ ích để đánh giá một cách xác thực, chi tiết và toàn diện về xã hội phong kiến triều Nguyễn trong lịch sử cận đại của dân tộc ta.
Ngày nay, khối tài liệu Mộc bản đã được xử lý hoàn chỉnh, như in dập ra giấy dó, phân loại, hệ thống hóa, quét và ghi toàn bộ bản dập tài liệu Mộc bản vào dĩa CD-Rom để bảo hiểm và phục vụ cho mục đích tra cứu, sử dụng, trong đó có xây dựng chương trình quản lý tài liệu Mộc bản vào máy vi tính, không những cho phép tra cứu xuyên suốt toàn bộ khối tài liệu Mộc bản theo những tiêu chí khác nhau như vấn đề, tên tác giả, tác phẩm, niên lịch, mẫu tự… mà còn cho phép đọc được trong phạm vi từng bộ sách, từng quyển sách, từ phần mô tả, phần dàn trang, mục lục từng quyển cho tới một trang ảnh bất kỳ và nếu có nhu cầu sao in thì in được ngay trang tài liệu đó.
.
Ban biên soạn của Trung tâm Lưu trữ còn biên soan và xuất bản sách “Mộc bản triều Nguyễn – Đề mục tổng quan” để công bố, giới thiệu với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước toàn bộ khối tài liệu Mộc bản quý hiếm này. Bản gốc tài liệu Mộc bản hiện nay đã được chỉnh lý khoa học, có phần mềm quản lý và phục vụ khai thác.
Như chúng ta đã biết, nhân dịp Thăng Long – Hà Nội kỷ niệm 1.000 năm, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước – Bộ Nội vụ đã trao tặng phiên bản Mộc bản “Chiếu dời đô” của vua Lý Thái Tổ đã được trích ra từ kho Mộc bản của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV Đà Lạt cho UBND Thành phố Hà Nội. Nơi đây còn trưng bày văn bản nguyên gốc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Chính phủ Lâm thời Việt Nam DCCH ra săc lệnh số 21 ngày 8/9/1945 cử Ngô Đình Nhu làm Giám đốc Nha Lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc, trưng bày trên mười bản chụp chữ ký khác nhau của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các văn bản chính thức và trang tài liệu của Viện Cơ mật dưới thời vua Khải Định v.v…
Khi đến tham quan Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV tức Khu Biệt điện Trần Lệ Xuân cũ, chúng ta sẽ được hướng dẫn xem phòng trưng bày ngoài trời với những tấm pa-nô lớn thể hiện nhiều mô hình như Chiếu dời đô, bìa sách Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, lời di huấn của vua Minh Mạng …Còn khu trưng bày tài liệu của Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV hiện nay nguyên là khu biệt thự Lam Ngọc, nhà khách của Trung tâm chính là Biệt thự Hồng Ngọc. Phòng trưng bày Mộc bản còn gắn liền với các nhân vật lịch sử như Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Trần Lệ Xuân và gia đình với các con từng sinh hoạt tại đây trong thời vàng son của gia đình họ Ngô. Nơi đây còn trưng bày tài liệu, hình ảnh qua các thời kỳ lịch sử của cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ của dân tộc ta và quá trình hình thành phát triển của Tây Nguyên và tỉnh Lâm Đồng, trong đó có thành phố Đà Lạt với trên 100 năm tuổi.
Chúng ta còn tự hào “Mộc bản triều Nguyễn” là khối tài liệu đặc biệt quý hiếm của nước ta đang được bảo quản tại khu vực trên đã được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới vào ngày 30/7/2009.

Reactions:

Nhận xét&Bình luận

| Copyright © 2014 Du lịch Đà Lạt: Dịch vụ tour du lịch Đà Lạt giá rẻ